<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<!DOCTYPE charter SYSTEM "lesson.dtd">
<?xml-stylesheet type="text/xsl" href="lesson.xsl"?>
<lesson
	note="Quyển 4"
	prev="DVST_03.xml"
	next="DVST_05.xml"
	title="Lý Thái Tổ"
	subtitle="(1010-1028) đến Lý Thánh Tông - Đại Việt (1072)"
>
<epoch name="LÝ THÁI TỔ (1010 - 1028)">
<verse>Lý Công Uẩn vốn dân Cổ Pháp 
Sinh ra đời đúng bậc minh vương 
Lên ngôi hoàng đế Việt Thường 
Là n gười khoan thứ tinh tường việc dân 

Cha không có, mẹ người họ Phạm 
Chùa Tiêu Sơn giao hợp thần nhân 
Sinh vua tuấn tú bội phần (974) 
Năm lên ba tuổi cho làm con nuôi 

Lý Khánh Văn nhận nuôi đứa bé 
Trẻ thông minh đủ vẻ lương tường 
Sư chùa Lục Tố rất thương 
Nói rằng: Không phải người thường thế đâu 

Mãi về sau lời sư Vạn Hạnh 
Đã trở thành định mệnh quốc gia 
Nhiều năm ròng rã trôi qua 
Tiên tri lúc trước quả là đúng ngay 

Sau hai ngày vua Lê Long Đĩnh 
Chết chưa chôn thì chuyện xãy ra 
Trong triều nỗi cuộc phong ba 
Nguyễn Đê , Cam Mộc đứng ra nói rằng: 

"… Bọn ta không nhân lúc này cùng nhau 
sách lập Thân vệ ( Lý Công Uẩn ) làm thiên tử , 
lở bối rối có xãy ra tai biến gì , 
liệu chúng ta có còn giữ đựơc cái đầu hay không ? 

Cuộc chính biến tôn vương chớp nhoáng 
Kế hoặch xong chỉ đúng hai ngày 
Cho dù ai muốn trở tay 
Cũng không xoay được đổi thay cuộc cờ 

Lý Công Uẩn , cơ đồ có sẳn 
Kẻ khôn ngoan dưới trướng khá nhiều 
Thiền sư Vạn Hạnh phò theo 
Thái sư Khuôn Việt đem điều nghĩa nhân 

Gốc là dân mối giềng trị nước 
Việc khởi đầu làm trước lên ngôi 
Bỏ giềng lưới, bỏ giam người 
Đại xá thiên hạ đổi đời từ đây 

Vua xuống chiếu từ rày có việc 
Không thuận lòng giải quyết với nhau 
Được quyền diện kiến trình tâu 
Vua thân phán quyết ngỏ hầu minh oan 

Lại hạ lệnh: người đang trốn tránh 
Cho phép về lại cảnh quê hương 
Áo cơm giúp kẻ cùng đường 
Tha người Nam Chiếu cấp lương đưa về 

Vua lại phê, ba năm tha thuế 
Sửa đình chùa đổ nát hư hao 
Công, hầu, khanh tướng ban trao 
Chọn người xứng đáng để giao trọng quyền 

Viết chiếu truyền, dời đô đến chỗ (1010) 
Thành Đại La đất cổ Cao Vương 
Vùng này đất phẳng mười phương 
Long chầu, hổ phục dị thường địa linh 

Nhìn địa hình, đông, tây, nam, bắc 
Thế đất này nét sắc mà oai 
Vì dân lập kế lâu dài 
Tính theo vận nước nhân tài hội đây 

Lạ lùng thay, thuyền vua vừa đến 
Có rồng vàng xuất hiện trên sông 
Đổi tên thành gọi Thăng Long 
Mùa thu tháng bảy khởi công dựng nền (1010) 

Điện Càn Nguyên nơi coi triều chính 
Điện Tập Hiền hướng định chánh Nam 
Nằm sau là Điện Long An 
Phía đông Giảng Võ Thư Tàng kế bên 

Bốn cửa thành: Tương Phù, Quản Phúc 
Cửa phía Bắc Diệu Đức mở ra 
Đại Hùng theo hướng Tây qua 
Tường cao hào chắn phía xa ngoại thành 

Cửa Đan Phượng thông liền Uy Viễn 
Bậc thềm rồng trước Điện Cao Minh 
Thăng Long quang cảnh hữu tình 
Nghênh Xuân cung cấm, ngoại thành chùa Nghiêm 

Đổi niên hiệu Thuận thiên để tính (1010) 
Chức đặt ra phân định rõ ràng 
Sắc phong cho sáu bà hoàng 
Các con đều được tước vương , tước hầu 

Lấy kinh tế làm đầu trị quốc (1013) 
Định lệ ra luật nước rõ ràng 
Sáu tên sưu thuế đàng hoàng 
Năm lần giảm thuế nước càng phồn vinh (1017) 

Nơi Phiên trấn (1020), tình hình không ổn 
Giặc xâm lăng khốn đốn dân binh 
Cất quân chinh phạt tự mình 
Đánh cho mấy trận tan tành Cử Long 

Vua một lòng tôn sùng đạo Phật 
Xuống chiếu truyền khuyên tập chép kinh 
Để lầu bát giác tôn vinh (1021) 
Đúc chuông, xây tháp, linh đình làm chay 

Với Bắc triều vua sai thông hiếu 
Nhà Tống phong Giao Chỉ quận vương 
Năm lăm tuổi thọ hưởng dương (1028) 
Hiệu là Thái Tổ, Thọ Lăng táng ngài 

Lý Công Uẩn , nhân thời mỡ vận 
Vốn là người khí tượng đế vương 
Song ưa nghe việc dị thường 
Nên chi bị lụy đoạn trường mà thôi </verse>
</epoch>
<epoch name="LÝ THÁI TÔNG (1028 -1054)">
<verse>Lý Phật Mã vâng lời di chiếu 
Đến cấm thành mới hiểu ra rằng 
Ba em mai phục thân quân 
Giết mình để đoạt ngai vàng về tay 

Xác vua cha còn đây chưa liệm 
Sao ba em toan chiếm ngai vàng 
Đông Chinh, Thánh Dực, Võ Vương 
Rõ là cốt nhục tương tàn buồn thay 

Cuộc chính biến, ba tay vương tử 
Khiến triều đình phải xử cho nghiêm 
Có quan Phụng Hiểu điện tiền 
Rút gươm thẳng đến chém liền Võ Vương 

Lý Phật Mã trong cơn bối rối 
Lên ngôi vua hiệu đổi Thiên Thành 
Tôn cha, Thái Tổ thần danh 
Quốc tang bố cáo trong thành, ngoài biên 

Vua tha cho bọn em dấy loạn 
Lấy tình người đổi oán bằng ân 
Đem tiền, gạo phát cho dân 
Gọi là bố thí ngay lần lên ngôi 

Vua lại sai đặt ra thứ bậc 
Để trao quyền cho thật phân minh 
Lựa người tài giỏi nghề binh 
Phong làm Thượng Tướng giữ gìn quốc gia 

Vua lập ra bảy bà hoàng hậu 
Là một điều nhiên hậu không ai 
Sách phong thái tử truyền ngai 
Nhật Tôn hoàng tử được ngài ban cho 

Là một người nhân từ sáng suốt 
Lại hiểu thông thao lược kinh luân 
Sáu nghề lễ nhạc luật âm 
Ngự văn, thư số cũng trang anh tài 

Suốt một đời trên ngai hoàng đế 
Bước trường chinh tế thế đông, tây 
Ở ngôi hăm bảy năm đầy 
Tám lần chinh phạt dạn dày phong sương 

Đánh Trệ Nguyên chặn đường Tồn Phúc (1033) 
Phạt Chiêm Thành qui phục nhân tâm (1039) 
Dải dầu chín tháng hành quân 
Chém đầu Sạ Đẩu, giết gần vạn binh (1044) 

Vua xuống chiếu soạn thành bộ Luật 
Ghi rõ ràng cho thật phân minh 
Chia ra môn loại rành rành 
Đâu là dân luật, luật hình, luật quân 

Bộ Hình Thư được dân mong muốn (1042) 
Bởi vì là thích ứng mọi nơi 
Luật nghiêm lại hợp tình người 
Công bằng đúng lẽ thuận trời, an dân 

Tội gian dâm, tội đồ, hối lộ 
Soạn thành văn lý số rõ ràng 
Những ai làm việc lâu năm 
Mà không có lỗi được thăng chức liền 

Vua lại sai đóng thuyền cỡ lớn 
Hạ thủy đầu chiến hạm Vạn An (1034) 
Vinh Xuân, rồi chiếc Nhật Quang (1037) 
Thủy quân cũng đóng vài trăm tiểu thuyền (1043) 

Vua hạ lệnh đào kênh Đãn Nãi (1029) 
Rồi lại sai vét đãi Lẫm Kênh (1050) 
Đặt mốc, cắm biển đề tên 
Chỉ đường, hướng lối kế bên vệ đường 

Trạm Hoài Viễn để giường khách nghỉ 
Xây trên bờ bên mé Gia Lâm (1035) 
Tây Nhai mở chợ cho dân 
Trên sông Tộ Lịch bắt ngang chiếc cầu 

Lệ từ lâu, năm nào cũng thế 
Vua thân hành tế lễ Thần Nông 
Tịch điền ruộng đã cày xong 
Nêu gương thiên hạ dốc lòng làm ăn 

Vua lại dạy cung nhân dệt gấm (1040) 
Phát trống kho gấm Tống làm quà 
Từ đây sử dụng lụa nhà 
Trong dân sản xuất ; của ta, ta dùng 

Dạy Hoàn Vương chấp cung xét hỏi 
Việc kiện thưa xử tội rồi tâu 
Lại cho Thái tử coi chầu 
Để nghe chính sự ngõ hầu ngày sau (1054) 

Thuật dạy con bắt đầu như thế 
Cho muôn đời lấy để làm gương 
Tính vua đôi lúc bất thường 
Thích nghe sấm ký khoa trương việc mình 

Trong Cấm Thành buồn tình giải trí 
Lập đoàn ca nhạc kỷ trăm người 
Vào rừng Kha Lãm tìm voi 
Dựng chùa Diên Hựu, xây đài chứa Kinh (1049) 

Khắp đất nước thanh bình an lạc 
Vua là người trầm mặc tinh thông 
Tháng mười Giáp Ngọ, tiết đông (1054) 
Trường Xuân vua mất đau lòng con dân 

Là một người bội phần cơ trí 
Việc quốc gia chăm chỉ sớm hôm 
Tiếc rằng hay nói khoe khoang 
Là người khai sáng mối nguồn về sau </verse>
</epoch>
<epoch name="LÝ THÁNH TÔNG (1054 - 1072) - ĐẠI VIỆT">
<verse>Được ngôi cao: Thái Tông Hoàng Đế 
Là Đông Cung thừa kế Nhật Tôn 
Một người tâm tính ôn tồn 
Thương dân, trọng việc lại còn lo xa 

Đổi quốc hiệu thành ra Đại Việt (1054) 
Lập lịch triều, kỷ yếu định danh 
Gọi tên: Long Thụy Thái Bình 
Sửa sang chính sự, dân tình an sinh 

Lập Văn Miếu , nặn hình Tứ Phối 
Những người hiền: Khổng Tử, Chu Công 
Bẩy hai trò giỏi thờ chung 
Là đất văn vật, tấn phong nhân tài 

Ngoài cấm thành xây đài cao nhất 
Đặt tên là Bảo tháp Báo Thiên (1054) 
Mươi hai tầng đứng dính liền 
Vươn cao chục trượng oai nghiêm vô cùng 

Gặp tiết đông lúc trời lạnh giá 
Thương người tù thiếu cả chiếu chăn 
Gian, ngay chưa biết tỏ tường 
Truyền cho ngục lại phát chăn để nằm (1055) 

Xót dân tình phải chăng không biết (1064) 
Nên nhiều khi làm việc lỡ lầm 
Xử người như với người thân 
Lấy điều khoan giảm gia ân cho người 

Dân thiếu ăn, đức trời thừa thiếu (1075) 
Tha thuế tô, một kiểu khuyến nông 
Vua, Quan, Dân, lính một lòng 
Giữ yên bờ cõi chẳng mòng riêng tây 

Năm Kỷ Hợi lựa ngày Bắc phạt (1059) 
Đánh Khâm Châu cả nước kinh hoàng 
Biểu dương lực lượng vài hôm 
Rồi cho triệt thoái truyền gom quân về 

Đánh nước Tàu thị uy cho biết 
Cũng bởi vì vua ghét Tống vương 
Phản phúc dối trá dị thường 
Nuốt lời binh viện đánh Nùng Trí Cao 

Đánh Chiêm Thành răn vua Phiên trấn 
Chúa Chămpa thất trận đầu hàng 
Thế cùng Chế Củ xin dâng 
Ba châu cắt đất xin nhường Thánh Tông 

Vua bằng lòng tha cho Chế Củ 
Cõi biên thùy uy vũ vang danh 
Thu về Địa Lý, Ma Linh (1069) 
Cùng châu Bố Chính trở thành đất ta 

Tuổi bốn mươi, sinh ra con nhỏ (1066) 
Vua rất mừng, trăm họ hân hoan 
Có người nối dõi ngai vàng 
Phong ngay thái tử , đăng quang sau này 

Lý Thánh Tông có tài văn học (1056) 
Làm minh văn cho đục trên bia 
Cung thương sáng tác nghề kia 
Phỏng theo nhạc khúc chẳng lìa âm Chiêm 

Tiếng trống Chiêm vô cùng hấp dẫn 
Điệu Pì dền khi bổng, lúc khoan 
Tám mươi điệu trống Kỳ Nằng 
Ri Nai khúc hát nhẹ nhàng vui thay 

Nhân một hôm gặp ngày xuân nhựt (1063) 
Dân hiếu kỳ nô nức tranh đua 
Nhân ngài đi vãn cảnh chùa 
Cố nhìn được mặt đức vua một lần 

Chỉ riêng một, giai nhân tuyệt sắc 
Không nhìn vua, nép mặt bên lan 
Khiến vua làm lạ vô vàn 
Vua cho võng kiệu để mang nàng về 

Tên Ỷ Lan cũng vì tích đó 
Là một người sắc sảo thông minh 
Thay vua việc nước điều hành 
Khi chồng sang đánh Chiêm Thành năm sau 

Lý Thánh Tông tài cao nhân hậu 
Coi việc dân , đạt thấu lẽ trời 
Cơ đồ gánh vác trên vai 
Bình Chiêm, phạt Tống trong ngoài vỗ yên</verse>
</epoch>
</lesson>
